Cô Vợ Nhỏ Đanh Đá Thập Niên 80: Đại Lão Nhà Tôi Có Mỏ Vàng - Chương 236: Đôi Hài Đầu Hổ
Cập nhật lúc: 07/04/2026 03:07
Ngô Thiện Toàn và Võ Quảng Húc chốt đơn một lèo một trăm chiếc áo phao, rồi rảo bước sang khu chuyên bán đồ thể thao. Chính Võ Quảng Húc đã khơi mào ý định tậu thêm loại quần áo này.
Năm nay, đội tuyển bóng chuyền nữ Trung Quốc tạo nên cơn địa chấn với chức vô địch Olympic tại Mỹ, lập tức thổi bùng cơn sốt thời trang thể thao trên toàn quốc.
Ở vùng Đông Bắc lạnh lẽo, dân tình hay diện đồ thể thao lót bên trong áo bông dày cộm, hễ thời tiết hửng ấm là có thể cởi phăng lớp ngoài, một bộ cánh mà dùng được cả hai mùa, tiện lợi vô cùng.
Trang phục thể thao ở chợ đầu mối Hoa Thành rực rỡ sắc màu, đồng điệu nguyên set, trông cực kỳ bắt mắt.
Tất cả đều nhờ vào những bức ảnh "xịn sò" trên tạp chí "Điện ảnh Đại chúng" mà Võ Quảng Húc đã cày cuốc, các minh tinh thời bấy giờ toàn diện mốt này đấy thôi.
Tiếp đó, hai người lại lân la sang khu vực bán buôn đồ nội y, gom về cơ man nào là áo lót, quần đùi cho nam nữ và... món đồ từng gây ra "án mạng" – áo lót!
Phen này, hai anh em đường hoàng dạo bước với tư cách là dân buôn thứ thiệt, tha hồ lựa chọn, săm soi đủ loại áo lót mà không sợ bị ai soi mói.
Họ đã rành rẽ về các size áo rồi...
Quan trọng nhất là, họ có thể "hợp tình hợp lý" mà mua sắm, chẳng ai buồn ném cho họ cái nhìn ái ngại!
Hai người cũng ngầm hiểu ý nhau, mỗi người lén giấu nhẹm một chiếc "hàng xịn" làm quà cho vợ, nghề buôn bán mà, sắm cái này là lẽ đương nhiên phải không nào?
Lúc ra khỏi chợ, Võ Quảng Húc xách hai bao tải to tướng nhẹ tênh như không.
Ngô Thiện Toàn từng "trải nghiệm" sức mạnh phi thường của ông anh rể. Hồi chạm trán ở đầu làng, anh toan "ra oai" nhưng suýt nữa bị anh ta vặn nát tay.
Hai bao hàng này, hai người khệ nệ khiêng còn bở hơi tai, đằng này anh ta một tay một bao!
Về nhà chắc phải hỏi nhỏ chị dâu xem ông anh này xơi gì mà khỏe như vâm thế!
Hai người gửi tạm hàng ở túp lều giữ đồ trước cổng chợ, chỗ này chuyên giữ đồ cho dân buôn, ghi chú tên tuổi đàng hoàng, lấy hàng xong quay lại lấy sau.
Hàng hóa vẫn chưa gom đủ, họ phải quay lại tiếp tục công cuộc "tảo thanh".
Vừa bước ra cửa, đập vào mắt hai người là cảnh một người phụ nữ nước mắt lưng tròng, mếu máo kêu gào: "Tiền của tôi, tiền của tôi đâu rồi!"
Hàng tá tờ 10 đồng vương vãi trên nền đất, chị ta tay ôm khư khư bụng, cúi gập người vội vã nhặt từng đồng.
Ôm bụng không phải vì bị đ.â.m c.h.é.m gì đâu, mà là cái chỗ giấu tiền bị rạch toạc rồi.
Chắc hẳn bọn rạch túi chưa kịp cuỗm sạch thì quần đã rách, tiền rớt lả tả ra ngoài.
Đám đông xúm lại, người thì lén lút "bỏ túi" riêng vài tờ, người thì t.ử tế nhặt nhạnh trả lại cho người phụ nữ đáng thương.
Chợ bán buôn phố Cao Đệ lúc bấy giờ vẫn còn hoạt động theo kiểu tự phát, là sự chắp vá của vô vàn hộ kinh doanh cá thể.
Chính nhờ dòng người tấp nập đổ về đây nhập hàng mà nó dần định hình thành một "con phố sầm uất" chuyên sỉ quần áo.
Võ Quảng Húc và Ngô Thiện Toàn chỉ lia mắt qua rồi tiếp tục chen chân vào bên trong khu chợ.
Người phụ nữ kia kể ra cũng còn phước chán, chỉ bị rạch quần rơi tiền, chưa bị móc túi sạch bách, bằng không thì chỉ có nước khóc ròng.
Nhưng cảnh tượng ấy cũng đủ để nhắc nhở hai người phải cẩn trọng hơn với túi tiền của mình.
Nãy giờ mới gom được quần áo, giờ phải chuyển hướng sang khu giày dép mũ nón.
Ngày hôm sau, họ chuyển "bãi đáp" đến gầm cầu Hải Ấn, nơi quy tụ hàng chục sạp hàng chuyên sỉ len sợi và vải vóc. Ngô Thiện Toàn quyết định "vào việc" một mẻ vải lớn ở đây.
Đừng vội khinh thường những gánh hàng rong lay lắt dưới gầm cầu này, chính lực lượng hùng hậu này đã góp phần tạo nên "Chợ vải Trung Đại" và "Trung tâm thương mại Vải Hải Ấn" lẫy lừng sau này.
Dẫu miền Đông Bắc đã chìm trong cái rét buốt xương, nhưng loại vải "The-cờ-lăng" (Dacron) vẫn chứng tỏ được sức hút mãnh liệt.
Việc diện một chiếc sơ mi "The-cờ-lăng" lấp ló bên trong lớp áo len ấm áp là "mốt" thịnh hành của dân Bắc lúc bấy giờ.
Một chiếc áo sơ mi may sẵn từ loại vải này giá "chát" ngót nghét chục đồng, trong khi tự mua vải về may, tính cả công thợ cũng chưa đến chục đồng.
Vải "The-cờ-lăng" sỉ tại đây chỉ khoảng hai đồng một mét, mang về bán lại cũng bỏ túi được sáu bảy đồng, quả là món hời béo bở.
Hơn nữa, khổ vải khá rộng, chỉ cần hơn một mét chút đỉnh là may đủ một chiếc áo sơ mi.
(Nói thêm một chút về cái tên "The-cờ-lăng". Thực ra, ban đầu ở Quảng Đông, người ta gọi nó là "Đích xác lượng" (rất đẹp). Nhưng do phát âm địa phương, người Bắc nghe không lọt tai chữ "lượng", nên sau này gọi chệch đi thành "The-cờ-lăng".)
Hai ông chồng đi biền biệt đã mười ngày, Liễu Nguyệt Nha nhẩm tính thời gian, chắc mẩm một hai ngày nữa là họ sẽ vác mặt về.
Mấy hôm nay trời đổ tuyết liên miên, cô thôi không ra trấn nữa. Sáng sớm, cô chuẩn bị sẵn một mẻ thịt kho tươm tất, để Võ Văn Tú tạt ngang lấy chở lên tiệm.
Thời gian còn lại trong ngày, cô ru rú ở nhà, cắm cúi may vài chiếc quần bông cho cả nhà, bà cụ Lý rảnh rỗi cũng xúm vào phụ một tay.
Liễu Nguyệt Nha dặn Võ Văn Tú lùng mua cho cô mấy cuốn băng cassette nhạc Đặng Lệ Quân, ngày nào cô cũng cho phát nhạc ỉ ôi.
Chứ không thì cô cứ văng vẳng bên tai mãi cái bài "Chuột yêu gạo", khiến Võ Quảng Dương sáng nào cũng phải càm ràm: "Chị dâu ơi, phòng chị có chuột chạy rông à?"
Bà cụ Lý lôi ra một tay nải nhỏ, mở ra khoe với Liễu Nguyệt Nha: "Cháu gái xem đôi hài đầu hổ này có ưng bụng không?"
Liễu Nguyệt Nha cầm đôi hài lên, ngắm nghía đầy thích thú: "Bà ơi, đôi này do chính tay bà thêu ạ?"
Bà cụ Lý cười tít mắt, nếp nhăn xô lại: "Mấy chục năm rồi bà không đụng đến kim chỉ, thế nào? Còn tươm tất không? Nếu cháu thích, bà ráng thêu thêm vài đôi nữa!"
Ở quê, người ta hay có lệ tặng hài đầu hổ cho trẻ nhỏ vào dịp đầy tháng hoặc thôi nôi, với hy vọng đứa bé sẽ lớn lên khỏe mạnh, bụ bẫm như chú hổ con.
Hổ vốn là chúa tể sơn lâm, nên đôi hài này còn mang ý nghĩa xua đuổi tà ma, bệnh tật.
Thêu hài đầu hổ cũng là cả một nghệ thuật, không phải ai cũng rành rẽ đâu nhé.
"Đẹp quá chừng luôn!" Liễu Nguyệt Nha ôm đôi hài nâng niu: "Bà ơi, có hai đôi là đủ xài rồi, bà đừng nhọc công thêu thêm nữa nhé!"
Dù thích mê, nhưng cô cũng xót xa cho đôi mắt kém của bà cụ Lý. Tuổi cao sức yếu, tỉ mẩn thêu thùa thế này hại mắt lắm.
"Đợi đến lúc sinh ra xem là quý t.ử hay công chúa, bà sẽ thêu thêm vài đôi cho chuẩn màu!"
Bà cụ Lý nói xong, đưa tay xoa nhẹ chiếc bụng của Liễu Nguyệt Nha: "Cái bụng cháu trông là lạ nhỉ! Không tròn xoe mà cũng chẳng nhọn hoắt!"
Mấy cụ bà hay có "chiêu" nhìn dáng bụng bầu để đoán giới tính t.h.a.i nhi, thường thì trúng phóc đến tám chín phần mười.
Nhưng Liễu Nguyệt Nha thì chẳng mặn mà với mấy trò "bói toán" này. Thời hiện đại, siêu âm B còn có lúc "nhìn nhầm", huống hồ là đoán mò qua cái bụng!
Dù sao thì với cô, con trai hay con gái cũng là lộc trời cho, quý giá như nhau!
Bà cụ Lý đang xoa bụng, bỗng cảm nhận được một cú chấn động nhẹ: "Ui chao, cái chân nhỏ xíu mà đạp mạnh gớm!"
Liễu Nguyệt Nha cũng vuốt ve bụng mình, khẽ nói: "Bà ơi, cháu thấy em bé đạp kỳ cục lắm, lúc thì nhộn nhạo chỗ này, lúc thì chỗ kia, không biết mấy bà bầu khác có thế không."
"Cháu chưa qua bác sĩ Uông kiểm tra lại à?" Bà cụ Lý cũng chưa từng nghe qua tình trạng này, chẳng rõ thực hư ra sao.
"Lần trước bác ấy khám bảo là t.h.a.i nhi phát triển bình thường." Liễu Nguyệt Nha nghĩ bụng, y học cổ truyền bắt mạch cũng có điểm mù của nó. Dù cô rất tin tưởng Đông y, nhưng bắt mạch đâu thể nhìn xuyên thấu như siêu âm B, nhiều vấn đề vẫn "mù mờ" lắm.
Thời này chắc chắn đã có máy siêu âm B rồi, nhưng để tìm thấy ở một bệnh viện tuyến huyện thì đúng là "mò kim đáy bể", e rằng chỉ có bệnh viện tuyến tỉnh mới được trang bị.
Dù sao thì người dân thành phố nhỏ và nông thôn lúc bấy giờ khi m.a.n.g t.h.a.i cũng chỉ biết trông cậy vào việc bắt mạch, còn giới tính t.h.a.i nhi thì chỉ lúc "vỡ chum" mới vỡ lẽ.
(Xin phép giải ngố chút xíu: Nước ta đã nghiên cứu thành công máy chẩn đoán siêu âm thế hệ đầu tiên từ những năm 60 (năm 1963), đến năm 1983 hệ thống siêu âm B ra đời và được đưa vào sản xuất thương mại, tuy nhiên do cung không đủ cầu nên ngay cả bệnh viện tuyến tỉnh ở vùng sâu vùng xa cũng chưa chắc đã "săn" được một chiếc.
Sau năm 1984, máy siêu âm B nhập ngoại mới ồ ạt đổ bộ vào thị trường nội địa. Thực tế, trong những năm tháng gian khó ấy, các nhà khoa học nước ta vẫn miệt mài nghiên cứu và đạt được những bước tiến đột phá. Mong mọi người đừng lầm tưởng thời đó quá lạc hậu. Có thể nhiều trang thiết bị chưa được phổ cập rộng rãi do cơ chế kinh tế kế hoạch hóa và nhiều yếu tố khác, nhưng năng lực khoa học kỹ thuật của nước nhà lúc bấy giờ đã rất "ra gì và này nọ" rồi nhé!)
(À, sẵn tiện đính chính thêm về cái nồi cơm điện: Năm 1958, chiếc nồi cơm điện đầu tiên được "du học" về nước để "mổ xẻ". Năm 1961, Việt Nam (Trung Quốc) đã tự lực cánh sinh nghiên cứu và tung ra thị trường chiếc nồi cơm điện "made in China" đầu tiên mang thương hiệu "Tam Giác" lừng danh.
Năm 1964, chiếc nồi áp suất "chuẩn không cần chỉnh" đầu tiên của nước Trung Quốc mới cũng được ra lò tại Nhà máy sản xuất đồ nhôm Lê Minh (Thẩm Dương) và tung ra thị trường, chính là tiền thân của thương hiệu nồi áp suất "Song Hỷ" đình đám một thời.)
